Chùa Dâu miền đất phật?

0 Votes
đã hỏi 30 Tháng 4, 2015 trong Văn Hóa - Du lịch bởi Saothanggieng Thiếu tá (7,925 điểm)
Chùa Dâu thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Xưa thuộc Tổng Khương, huyện Luy Lâu, quận Giao Chỉ, và sau còn gọi là huyện Siêu Loại

Túi da nam cao cấp đang khuyến mại giá chỉ 100K

Túi nam từ 100K

0982.556.857 - Địa chỉ: 74/46 Nguyễn Hoàng Tôn, Tây Hồ, Hà Nội 

1 câu trả lời

0 Votes
đã trả lời 30 Tháng 4, 2015 bởi Hoa cát Thiếu tá (10,819 điểm)
Xa xưa người dân ở đây thường sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm và cấy lúa nước. Và có lẽ chính vì vậy mà dân gian xưa vẫn thường gọi là vùng Dâu, hoặc kẻ Dâu.

Năm 207 trước công nguyên, Triệu Đà (Trung Quốc) mang quân sang xâm lược Việt Nam, lấy quận Giao Châu làm thị sở - Luy Lâu thành trung tâm đô thị.

Khoảng đầu công nguyên một số, nhà sư từ Ấn Độ đi theo đường biển vào Luy Lâu để truyền đạo. Chùa Dâu thành một trung tâm truyền đạo đầu tiên. Và cũng từ đây đạo phật được truyền sang Lạc Dương, Bành Thành (Trung Quốc) và một số nơi. Với ý nghĩa là một trung tâm phật giáo nên ở đây đã đào tạo được 500 vị tăng ni. dịch được 15 bộ kinh. làm được hàng chục bảo tháp (sau khi đó Trung Quốc mới có phật) có các vị cao tăng nổi tiếng đã đến đậy trị trì như Mâu Bát, Tì-ni-da-lưu-chi, Khăng Tăng Hội. Chi Y Cương Nương. Pháp Hiền...

Khoảng đầu công nguyên chùa Dâu chỉ là một cái am nhỏ, sau phát triển lên thành một ngôi chùa, tên gọi đầu tiên là CÔ Châu Tự (nghĩa là một viên ngọc quý).

Đến thế kỷ thứ 2 sau công nguyên (khoảng 187-226, thời Sỹ Nhiếp) hệ tư pháp được ra đời chùa Dâu thời bà Pháp Vân nên gọi là Pháp Vân Tự.

Rồi tiếp đến năm 1313 là đợt hưng công lớn nhất. Vua Trần Nhân Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi cho xây lên chùa to cảnh lớn như ngày nay. Đó là một ngồi chùa làm theo kiểu nội công, ngoại quốc - chùa trăm gian. tháp chín tầng, cầu chín nhịp. mà bao đời nay khác từ muôn phương vẫn thường về đây chiêm ngưỡng. Các đời vua của các triều đại xa xưa cũng đã từng về chùa Dâu để rước tượng Pháp Vân về chùa Báo Thiên (Hà Nội) để câu đảo (cầu mưa cầu gió) vua Lý Thánh Tông cũng đã về chùa Dâu để cầu tự (cầu con)  và đã đi thuyền trên sông Dâu, gặp Nguyên Phi Ỷ Lan. Chùa Dâu được coi là nơi rất thiêng nên được gọi là Diên Ứng Tự (Diên là cầu, ứng là hiện. Cầu gì được nấy)

Đó là cả một quá trình tồn tại và phát triển mà chúng ta có thể tóm tắt sơ qua như vậy.

Đến với chùa Dâu ngoài cảnh quan đồ sộ, chúng ta còn được chiêm ngưỡng những pho tượng quá giá như Pháp Vân, Kim Đồng, Ngọc Nữ, những bức phù điêu chạm khắc trên những bức trống cốn, giá chiêng mà ngày nay ít khi có được. Đến với chùa Dâu chúng ta còn được nghe kể về sự tích Tứ Pháp - Man Nương

Ngày xửa ngày xưa, vào khoảng đầu công nghuyên, ở làng Mên (làng Mãn Xá ngày nay) có ông bà Tu Định. Ông bà sinh ra bà Man Nương và rất sùng đạo Phật. Ông bà đã cho bà Man Nương đi tu từ năm 12 tuổi ở chùa Linh Quang (thuộc huyện tiên sơn ngày ngay) ông Khâu Đà La là ngương bên Tây Trúc (ẤN ĐỘ) sang trụ trì và truyền bá đạo.

Một đêm trang thanh gió mát, bà Man Nương ngồi từ cửa chùa và ngủ thiếp đi. Ông Khâu Đà La đi tụng niệm về và đã vô tình bước qua bà Man Nương, đã xao động "lòng đã thụ thai". Hay tin đó ông bà Tu Định đã trách ông Khâu Đà La tại sao con tôi đi tu lại mang thai. Ông đã trả lời: đó là điềm trời. Con nhà ngươi sau sẽ thành phật. Bà Man Nương thụ thai 14 tháng và sinh ra một nguwoif con gái tốt lành. Trước khi về Tây Trúc, ông Khâu Đà La đã trao cho bà Man Nương cây gậy Tầm Xích dặn bà là khi nào hạn hán đem ra cắm xuống đất  sẽ cứu được mọi sinh linh. Còn người con  gái, ông niệm chú và gửi vào một cây Dung Thụ ở bên bờ sông Thiên Đức và cũng cho bà Man Nương biết chuyện đó.

Sau khi Khâu Đà La về Tây Trúc, hạn hán kéo dài suốt 3 năm liền. Bà Man Nương đã dùng cây gậy Tầm Xích cắm xuống đất. Từ vết cắm nước phun lên chan hòa và đã cứu được muôn van sinh linh. Rồi tiếp đó lại có một trận bão khủng khiếp. Cây Dung Thụ bên bờ sống Thiên Đức bị đổ trôi về cửa thành Luy Lâu. Sỹ Nhiếp là thái thú lúc bấy giờ đang trị vì ở Luy Lâu đã định cho vớt lên làm đền Kính Thiên, nhưng thần báo mộng phải tạc Tứ Pháp. Sỹ Nhiếp đã cho quân kéo cây Dung Thụ lên, nhưng không làm sao kéo được. Một hôm bà Man Nương ra sông giặt yếm, nhìn cây Dung Thụ chợt nhớ đến con. Bà liền gọi: có phải con mẹ thì vào đây. Thế là cây Dung Thụ từ từ trôi vào. Bà Man Nương dùng dải yếm kéo tuột lên bờ. Sỹ Nhiếp đã cho Mười người họ Đào tạc nên bốn bà tượng trưng cho mây, mưa, sấm, chớp. Đó là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Bốn bà thờ ở bốn chùa khác nhau trong cùng khu vực

Khi tạc đến khúc giữa, những người thợ vấp phải một hòn đá bị mẻ rìu và họ đã vứt hòn đá đó xuống sông. Ban đêm lòng sông sáng rực lên. Thấy cảnh lạ Sỹ Nhiếp đã ra hỏi. Thì ra, người con gái được Khâu Đà La gửi vào cây Dung Thụ đã hóa đá. Sỹ Nhiếp cho người vớt lên nhưng không sao vớt được. Nhưng khi bào Man Nương đi thuyền ra sông thì hòn đá nhảy vào lòng thuyền và đã được đưa lên thờ, gọi là Đức Thạch Quang.

Hội Dâu vào ngày 8 tháng 4 hàng năm, chính là ngày bà Man Nương sinh hạ. Hội Dâu rất đông vui đã từng có hàng nghìn thiện nam tín nữa từ khắp nơi đổ về đây dự hội. Hội Dâu mở ra trong 3 ngày: mồng 7, mồng 8, mồng 9 âm lịch với một quy chế rất chặt chẽ. 11 kiệu phật được rước ra ngoài trời, đi khắp 12 làng xã trong tổng Khương. Các kiệu phật được phong áo trong rất lộng lẫy uy nghi. Trong ba ngày hội thường có rất nhiều trò vui như thi cướp nước, thi múa trống, múa gậy, múa sư tử. Ban đêm có hát trầu văn, hét chèo, hát trống quân v.v.. đi theo các pho tượng rước, còn có các thứ phụ đạo như tán, long, bát bửu, cờ sai, cờ lệnh, cờ thần cùng các thứ nhạc như thanh la, tù và, trống chiêng... và tất cả đã tạo nên cho ngày hội thêm đông vui náo nhiệt.

Hội Dâu đã trở thành hội lịch trong dân gian

Mồng bảy hội Khám

Mồng tám hội Dâu

Mồng chín đâu đâu

Cũng về hôi Gióng

hay lịch thời tiết:

Dâm dâu hội khám

U ám hội Dâu

Nắng vỡ đầu hội Gióng

Hội dâu đã trở thành tiếng gọi tâm linh đối với tất cả mọi người:

Dù ai đi đâu, về đâu

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về

Dù ai buôn bán trăm nghề

Tháng tư, ngày tám, nhớ về hội Dâu



Cũng với tầm quan trọng và ý nghĩa trên chùa Dâu đã được nhà nước Việt Nam cho liệt hạng bảo vệ kể từ ngày 28-04-1962 mà mỗi người công dân chúng ta phải có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn

Cũng như những ngôi chùa khác, ngoài phần thờ cúng những sự tích riêng, chùa Dâu cũng có những phần thờ cúng chung nhất theo như quy định của đạo Phật. Thờ ở ban thờ trước nhật là Tam Bảo, Tam Bảo là nơi  quan trọng nhất, có ý nghĩa thiêng liêng nhất. Đó là nơi thờ Thích Ca Mâu Ni, thờ tòa Cửu Long, thờ Tam Thanh, Tam Thế, thờ đức phật A Di Đà. Nơi mà mọi chúng sanh hướng về cõi Niết Bàn và đó là nơi các vị tăng ni thường xuyên sớm tối tụng kinh, thỉnh chuông, gõ mõ.

Đối xứng hai bên tam bảo thường là các vị thập điện (mời ông vua dưới âm phủ) hai ông Hộ Pháp, Bát Bộ Kim Cương. Rồi lan tỏa ra vòng ngoài, ở dãy hành lang, hậu đường là các vị thập bát La Hán, Đức Thánh Hiền, Phật Bà Quan Âm, Đức Ông và ở nhà thờ Tổ thờ Thánh Mẫu v.v... mỗi một pho tượng đều có tên gọi và có ý nghĩa lịch sử riêng mà chúng ta có thể tìm hiểu qua sách báo, hoặc truyền kể dân gian.

Các câu hỏi liên quan

0 Votes
1 câu trả lời 42 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 28 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 27 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 31 Lượt xem
0 Votes
3 câu trả lời 25 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 19 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 26 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 22 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 60 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 20 Lượt xem
đã hỏi 30 Tháng 4, 2015 trong Văn Hóa - Du lịch bởi Hoa cát Thiếu tá (10,819 điểm)
0 Votes
1 câu trả lời 20 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 27 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 97 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 24 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 28 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 22 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 37 Lượt xem
0 Votes
1 câu trả lời 17 Lượt xem

   

   HỎI ĐÁP NHANH - HỎI ĐÁP TRỰC TUYẾN CHO NGƯỜI VIỆT

Muốn biết thì phải hỏi - Muốn giỏi thì phải đáp

Liên hệ quản trị trang: dangnamkien@gmail.com - 89B Lý Nam Đế - Hoàn Kiếm - Hà Nội

 

...